TROMSØ, Na Uy: Mặc dù các bằng chứng cho thấy xi măng calcium silicate thủy lực thường mang lại kết quả tốt hơn trong điều trị bảo tồn tủy sống (vital pulp therapy), calcium hydroxide vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn này hiện vẫn chưa được hiểu rõ đầy đủ. Một nghiên cứu khảo sát mới tại Na Uy đã tìm hiểu cách các nha sĩ trong hệ thống công lập xử trí tình trạng lộ tủy ở răng vĩnh viễn không có triệu chứng, tập trung vào việc họ lựa chọn phương pháp điều trị và vật liệu nào, cũng như lý do đằng sau các lựa chọn đó. Kết quả cho thấy tồn tại một khoảng cách giữa bằng chứng lâm sàng và thực hành điều trị hằng ngày.
Nghiên cứu, dựa trên phản hồi của 218 nha sĩ trong hệ thống nha khoa công lập, cho thấy che tủy trực tiếp (direct pulp capping) là phương pháp được ưu tiên phổ biến nhất cho cả trường hợp lộ tủy do sâu răng và không do sâu răng. Ngoài che tủy trực tiếp, lựa chọn điều trị có sự khác biệt theo nguyên nhân lộ tủy: đối với lộ tủy không do sâu răng, nha sĩ ưu tiên cắt tủy buồng (pulpotomy) hơn lấy tủy toàn bộ (pulpectomy), trong khi với lộ tủy do sâu răng, họ lựa chọn pulpectomy nhiều hơn pulpotomy.
Về vật liệu che tủy trực tiếp, phần lớn nha sĩ ưa chuộng các vật liệu đóng rắn hóa học. Khoảng một nửa số người tham gia chọn calcium hydroxide là lựa chọn hàng đầu, trong khi khoảng hai phần năm ưu tiên các vật liệu gốc calcium silicate, mặc dù bằng chứng cho thấy nhóm này mang lại kết quả lâm sàng tốt hơn. Lý do phổ biến nhất mà các nha sĩ đưa ra cho lựa chọn vật liệu là họ hài lòng với kết quả lâm sàng đạt được.
Phát hiện quan trọng nhất là tính sẵn có của vật liệu tại cơ sở là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định của nha sĩ. Ngược lại, số năm kinh nghiệm và mức độ cập nhật tài liệu khoa học hầu như không có giá trị dự đoán khi xét cùng các yếu tố khác. Mặc dù tỷ lệ nha sĩ ít kinh nghiệm có đọc tài liệu khoa học gần đây về vật liệu nha khoa dùng trong che tủy trực tiếp cao hơn, và những người này có xu hướng lựa chọn xi măng calcium silicate nhiều hơn, nhưng các yếu tố này vẫn không vượt qua được ảnh hưởng của tính sẵn có trong quyết định cuối cùng. Các tác giả cho rằng chi phí có thể là một phần nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về khả năng tiếp cận vật liệu.
Nghiên cứu cũng đánh giá nhận định của người tham gia về tỷ lệ thành công dài hạn của phương pháp và vật liệu điều trị. Các nha sĩ ước tính rằng những ca sử dụng vật liệu quang trùng hợp (light-polymerising) có nguy cơ phải điều trị nội nha (lấy tủy) về sau thấp hơn một chút, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Tương tự, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nguy cơ cần điều trị nội nha khi so sánh xi măng calcium silicate với tất cả các vật liệu khác gộp lại hoặc so với riêng calcium hydroxide.
Nhìn chung, nghiên cứu kết luận rằng các nha sĩ Na Uy vẫn phụ thuộc nhiều vào calcium hydroxide, mặc dù các vật liệu khác có thể cho hiệu quả tốt hơn. Ảnh hưởng chi phối của tính sẵn có vật liệu cho thấy rằng việc cải thiện khả năng tiếp cận các lựa chọn được khuyến nghị có thể giúp thực hành lâm sàng tiệm cận hơn với bằng chứng hiện tại.
Trong bối cảnh hướng dẫn hiện hành của European Society of Endodontology, nhấn mạnh bảo tồn tủy, vô khuẩn và lựa chọn vật liệu dựa trên bằng chứng trong điều trị tủy sống, khảo sát tại Na Uy cho thấy khoảng cách giữa khuyến cáo và thực hành thường quy có thể phụ thuộc không chỉ vào kiến thức của bác sĩ mà còn vào những gì thực sự có sẵn tại các cơ sở công lập. Do đó, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn thực tiễn về xu hướng chuyển dịch sang điều trị sinh học, bảo tồn tủy, phù hợp với các hướng dẫn gần đây được đề cập trên Dental Tribune International về che tủy và cắt tủy điều trị như một giải pháp bảo tồn thay thế cho điều trị nội nha truyền thống.
Nghiên cứu có tiêu đề “Lựa chọn phương pháp điều trị và vật liệu trong các trường hợp lộ tủy ở nha sĩ công lập tại Na Uy” được công bố trực tuyến ngày 18 tháng 3 năm 2026 trên tạp chí Acta Odontologica Scandinavica.
Chủ đề:
Thẻ:
DUNDEE, Scotland: Việc xử trí viêm tủy không hồi phục ở răng vĩnh viễn đang trải qua một sự thay đổi dần dần nhưng có ý ...
MADRID, Tây Ban Nha: Mặc dù việc sử dụng mạng xã hội trong chăm sóc sức khỏe để thúc đẩy sức khỏe, nghiên cứu, tuyển ...
INDIANAPOLIS, Hoa Kỳ: Bất chấp những tiến bộ trong nghiên cứu và điều trị bệnh nha chu, nó vẫn là một vấn đề sức khỏe ...
LEIPZIG: Đức: Khi hành tinh này đang đứng trước ngưỡng cửa của nhiều điểm phá vỡ sinh thái, việc suy nghĩ và hành động ...
CHICAGO, Hoa Kỳ: Việc hợp pháp hóa cần sa của tiểu bang bắt đầu được đưa ra vào năm 2012 và việc sử dụng cần sa cá ...
LONDON, Anh: Một đề xuất về chương trình phiếu hỗ trợ nha khoa đã làm bùng lên trở lại cuộc tranh luận xoay quanh tương lai...
MANCHESTER, Anh: Nhiều chuyên gia nha khoa sử dụng các kỹ thuật thay đổi hành vi kết hợp với những lời khuyên vệ sinh răng ...
OULU, Phần Lan: Chứng sợ nha khoa là một trong những nỗi sợ hãi phổ biến nhất ở các nước phát triển. Trên toàn cầu, tỷ ...
LOS ANGELES, US / DUBAI, UAE: Bộ Y tế và Phòng ngừa của UAE đã cho phép sử dụng Second Opinion, một công cụ trí tuệ nhân tạo ...
BETHLEHEM, Pa., US: Các dạng viêm nha chu tiến triển liên quan đến Aggregatibacter actinomycetemcomitans thường khó điều trị bằng ...
Hội thảo trên web trực tiếp
T5. 9 Tháng 4 2026
12:00 AM VST (Vietnam)
Hội thảo trên web trực tiếp
T6. 10 Tháng 4 2026
12:00 AM VST (Vietnam)
Hội thảo trên web trực tiếp
T6. 10 Tháng 4 2026
1:00 AM VST (Vietnam)
Prof. Moritz Kebschull, Cat Edney
Hội thảo trên web trực tiếp
T6. 10 Tháng 4 2026
9:00 PM VST (Vietnam)
Hội thảo trên web trực tiếp
T6. 10 Tháng 4 2026
10:00 PM VST (Vietnam)
Dr. med. dent. Henrik-Christian Carl Hollay
Hội thảo trên web trực tiếp
T6. 10 Tháng 4 2026
11:00 PM VST (Vietnam)
Prof. Dr. Ali Murat Kökat
Hội thảo trên web trực tiếp
T6. 10 Tháng 4 2026
11:00 PM VST (Vietnam)
To post a reply please login or register