ATHENS, Hy Lạp: Cơ sở nghiên cứu về ứng dụng công nghệ in 3D trong chế tác phục hình sau cùng hiện còn phân tán theo từng nhóm vật liệu, công nghệ in và loại phục hình. Một tổng quan phạm vi mới đã tổng hợp các bằng chứng liên quan đến phục hình được nâng đỡ bởi răng thật. Khác với những tổng quan trước đây chỉ tập trung vào từng nhóm vật liệu riêng lẻ hoặc phạm vi kết cục nghiên cứu hẹp hơn, nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về những lĩnh vực đã được tập trung nghiên cứu và những khía cạnh vẫn còn thiếu bằng chứng khoa học.
Tổng quan phạm vi này đã xem xét các bằng chứng về vật liệu nền nhựa và gốm được chế tác bằng công nghệ in 3D để sử dụng trong phục hình sau cùng được nâng đỡ bởi răng thật, bao gồm mão răng, phục hình răng cố định nhiều đơn vị, endocrown, veneer, overlay và onlay.
Các nhà nghiên cứu đã xác định 111 nghiên cứu đủ điều kiện đưa vào phân tích. Tuy nhiên, bằng chứng chủ yếu đến từ các nghiên cứu in vitro, và chỉ có 6 nghiên cứu lâm sàng, trong đó có 1 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Phần lớn nghiên cứu tập trung vào mão răng, vật liệu nhựa và composite nhựa, gốm nền zirconia, cũng như các công nghệ quang trùng hợp trong bể chứa (vat photopolymerisation).
Các phát hiện cho thấy phục hình in 3D có thể đạt hiệu năng tương đương với phục hình được chế tác bằng phương pháp phay ở một số khía cạnh quan trọng. Trong các tài liệu được tổng hợp, phục hình in 3D thường được báo cáo là đạt độ chính xác kích thước chấp nhận được trên lâm sàng, độ khít sát bờ và độ khít sát bên trong phù hợp, cũng như khả năng kháng gãy tốt. Bằng chứng nhất quán nhất được ghi nhận đối với zirconia.
Các bằng chứng lâm sàng gần đây cũng bắt đầu củng cố những phát hiện này. Một nghiên cứu lâm sàng tiến cứu năm 2026 đã theo dõi 30 mão răng sau được chế tác bằng công nghệ in 3D trong 2 năm, ghi nhận tỷ lệ sống sót 93% và tỷ lệ thành công 87%. Có 4 mão răng bị gãy và 4 mão răng xuất hiện sự thay đổi màu sắc đáng kể. Những kết quả này cho thấy hiệu năng lâm sàng đầy hứa hẹn hiện nay vẫn chưa đủ để khẳng định độ bền lâu dài của phục hình sau cùng in 3D.
Các phát hiện liên quan đến gãy vỡ và thay đổi màu sắc này phù hợp với những kết luận tổng quát hơn của tổng quan về vật liệu nền nhựa in 3D. Tổng quan xác định khả năng kháng gãy thấp và tình trạng không ổn định màu sắc là những hạn chế lặp lại thường xuyên. Các nghiên cứu lâm sàng được đưa vào tổng quan đã ghi nhận chức năng phục hình chấp nhận được, đồng thời xuất hiện hiện tượng đổi màu tiến triển và mài mòn mặt nhai trong thời gian 2 năm.
Tổng quan cũng nhấn mạnh một vấn đề quan trọng: hiệu năng của phục hình phụ thuộc đáng kể vào quy trình in và xử lý sau in. Hướng đặt phục hình khi in, độ dày lớp in, quy trình xử lý sau in và các biến số trong thiết kế kỹ thuật số đều có thể ảnh hưởng đến độ chính xác, độ khít sát và đặc tính cơ học.
Các tác giả kết luận rằng việc chuẩn hóa quy trình in và xử lý sau in sẽ là điều kiện tiên quyết để công nghệ in 3D được ứng dụng một cách đáng tin cậy trong chế tác phục hình sau cùng.
Đối với các bác sĩ lâm sàng, có lẽ phát hiện quan trọng nhất là khoảng cách giữa hiệu năng trong phòng thí nghiệm và bằng chứng lâm sàng. Tổng quan kết luận rằng các nghiên cứu hiện tại ủng hộ tính khả thi về mặt kỹ thuật của phục hình sau cùng in 3D mạnh mẽ hơn nhiều so với khả năng chứng minh độ bền lâu dài trên lâm sàng.
Các tác giả khuyến nghị tiến hành thêm các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với thời gian theo dõi dài hơn, xây dựng các quy trình sản xuất được chuẩn hóa, đồng thời tiếp tục nghiên cứu nhằm khắc phục những hạn chế đặc thù của từng loại vật liệu để hỗ trợ việc ứng dụng trong thực hành lâm sàng.
Bài báo có tiêu đề “Vật liệu in ba chiều cho phục hình gốm và nhựa sau cùng: Tổng quan phạm vi ”, được đăng trực tuyến ngày 1 tháng 9 năm 2026 trên tạp chí Materials.
Chủ đề:
Thẻ:
ATHENS, Greece: Khi quy trình làm việc số ngày càng trở nên phổ biến trong phục hình răng và chỉnh nha, việc lựa chọn phương ...
BOZEMAN, Mont., US: Các nhà nghiên cứu của Đại học Bang Montana (MSU) đã phát triển một thiết bị in 3D có thể tái tạo các ...
LEIPZIG, Đức: Cuộc cách mạng nha khoa kỹ thuật số là ở đây. Đó là tâm lý chung của nhiều chuyên gia nha khoa, và nó được ...
BARONISSI, Ý: Hội thảo Châu Âu năm 2018 về Nha chu học về tái tạo xương đã xác định việc sản xuất các vật liệu sinh ...
HATTERSHEIM AM MAIN, Đức: Danh tiếng của Kuraray Noritake Dental như một nhà tiên phong trong lĩnh vực chất kết dính nha khoa là cơ ...
ISTANBUL, Thổ Nhĩ Kỳ: Khả năng tái tạo chính xác các điều kiện trong miệng là rất quan trọng đối với các phương pháp ...
ISTANBUL, Thổ Nhĩ Kỳ: Khả năng tái tạo chính xác các điều kiện trong miệng là rất quan trọng đối với các phương pháp ...
Nhân dịp Global Osseointegration Day vào ngày 3 tháng 5, một hội thảo trực tuyến sắp diễn ra do Brånemark Academy tổ chức sẽ ...
LOS ANGELES, Hoa Kỳ: SprintRay, một nhà sản xuất máy in 3D tập trung vào nha khoa kỹ thuật số, đã thông báo vào tuần trước ...
VENTURA, Calif., Hoa Kỳ: Các chuyên gia nha khoa hiện có thể tận dụng tối đa danh mục máy in 3D polymer siêu nhanh của Nexa3D nhờ ...
Hội thảo trên web trực tiếp
T3. 22 Tháng 9 2026
10:00 PM VST (Vietnam)
Hội thảo trên web trực tiếp
T3. 22 Tháng 9 2026
10:30 PM VST (Vietnam)
Hội thảo trên web trực tiếp
T4. 23 Tháng 9 2026
1:00 AM VST (Vietnam)
Jenny Guerrero Ferreccio DDS, MSc
Hội thảo trên web trực tiếp
T4. 23 Tháng 9 2026
2:00 AM VST (Vietnam)
Prof. Dr. Erhan Dursun DDS PhD
Hội thảo trên web trực tiếp
T4. 23 Tháng 9 2026
10:00 PM VST (Vietnam)
Dr. Dhiraj Arora BDS MJDF RCS(Eng) MSc(Endo) PGCert CE
Hội thảo trên web trực tiếp
T5. 24 Tháng 9 2026
1:00 AM VST (Vietnam)
Hội thảo trên web trực tiếp
T5. 24 Tháng 9 2026
7:00 AM VST (Vietnam)
To post a reply please login or register