Search Dental Tribune

Các nghiên cứu dữ liệu lớn tại Mỹ chỉ ra sự khác biệt giới tính trong các bệnh lý răng miệng

Một nghiên cứu quy mô lớn đã phát hiện những khác biệt đáng kể giữa nam và nữ ở nhiều bệnh lý răng miệng, nha khoa và vùng sọ mặt, qua đó cho thấy sự cần thiết của các phương pháp dự phòng và điều trị sức khỏe răng miệng được cá nhân hóa hơn. (Hình ảnh: bernardbodo/Adobe Stock)
Dental Tribune International

Dental Tribune International

T2. 28 Tháng 9 2026

Lưu lại

PITTSBURGH, MỸ: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giới tính sinh học có liên quan đến sự khác biệt trong đáp ứng miễn dịch và phản ứng viêm. Những khác biệt này có thể góp phần tạo ra sự khác nhau về mức độ dễ mắc và biểu hiện của các bệnh lý nhiễm trùng và viêm. Một nghiên cứu hồi cứu quy mô lớn, sử dụng dữ liệu từ hai kho dữ liệu lớn của Mỹ, đã xem xét liệu giới tính sinh học có liên quan đến sự khác biệt về tỷ lệ xuất hiện các bệnh và tình trạng liên quan đến răng, khoang miệng và vùng sọ mặt hay không – một lĩnh vực hiện vẫn còn thiếu các bằng chứng quy mô lớn. Kết quả nghiên cứu củng cố những khác biệt liên quan đến giới tính đã được ghi nhận trước đây đối với một số bệnh lý, đồng thời cung cấp thêm bằng chứng mới đối với một số bệnh lý khác.

Nghiên cứu đã phân tích dữ liệu hồ sơ bệnh án điện tử của 254.700 người trưởng thành tại Mỹ thuộc chương trình nghiên cứu All of Us của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), cùng khoảng 4,7 triệu hồ sơ từ Kho dữ liệu nha khoa BigMouth (BigMouth Dental Data Repository), nơi tổng hợp thông tin từ các trường nha khoa tại Mỹ. Các nhà nghiên cứu đã so sánh tỷ lệ xuất hiện của hơn 200 bệnh và tình trạng liên quan đến răng, khoang miệng và vùng sọ mặt ở nam và nữ.

Trong bộ dữ liệu All of Us, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê liên quan đến giới tính được ghi nhận ở hơn hai phần ba số bệnh lý có dữ liệu được phân tầng theo giới tính. Trong số này, hơn một nửa có xu hướng gặp ở nữ nhiều hơn, trong khi chưa đến một nửa có xu hướng gặp ở nam nhiều hơn.

Mối liên quan với nữ giới đặc biệt rõ rệt được ghi nhận ở viêm miệng áp-tơ tái phát (recurrent aphthous stomatitis), loét áp-tơ miệng (aphthous ulcer of the mouth) và khô miệng (xerostomia), cùng với một số rối loạn ảnh hưởng đến quá trình phát triển và mọc răng. Áp-xe răng, viêm tủy có hồi phục, đau răng và một số dạng viêm nha chu cũng cho thấy mối liên quan đáng kể với nữ giới.

Xu hướng liên quan đến nam giới rõ nhất được ghi nhận ở viêm nha chu mức độ trung bình lan tỏa và khu trú, mất răng do bệnh nha chu khu trú, cũng như sâu răng ở hố và rãnh lan đến ngà răng hoặc tủy răng. Các bệnh lý ác tính vùng khoang miệng cũng cho thấy xu hướng gặp ở nam giới nhiều hơn.

Phân tích bộ dữ liệu BigMouth cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê liên quan đến giới tính ở khoảng hai phần năm số bệnh lý có dữ liệu được phân tầng theo giới tính. Gần như tất cả các bệnh lý này đều cho thấy xu hướng gặp ở nữ giới nhiều hơn.

Các bệnh lý có mối liên quan đáng chú ý với nữ giới bao gồm khiếm khuyết men răng, ngà răng và xê-măng răng, khô miệng, viêm nha chu quanh chóp có triệu chứng, viêm tủy có hồi phục có triệu chứng và các rối loạn khớp thái dương hàm. Các bệnh lý có xu hướng gặp ở nam giới nhiều hơn gồm u ác tính khoang miệng, viêm nha chu tiến triển nặng lan tỏa và sâu chân răng.

Tuy nhiên, kết quả không phải lúc nào cũng nhất quán giữa hai cơ sở dữ liệu. Trong số 20 thuật ngữ chẩn đoán xuất hiện trong cả hai cơ sở dữ liệu, có 8 thuật ngữ cho thấy hướng khác biệt giới tính trái ngược nhau, đáng chú ý nhất là viêm nha chu mạn tính khu trú và viêm nha chu mức độ trung bình lan tỏa, cũng như mòn răng do ma sát (tooth abrasion) và mòn răng do sự tiếp xúc giữa các răng (attrition).

Các tác giả cho rằng những cơ chế sinh học, bao gồm sự khác biệt về đáp ứng miễn dịch, hormone và các yếu tố di truyền đặc thù theo giới tính, có thể góp phần giải thích một số khác biệt quan sát được. Tuy nhiên, họ cũng chỉ ra rằng các yếu tố hành vi, môi trường và những yếu tố khác ở cấp độ quần thể cũng có thể đóng vai trò.

Các bằng chứng lâm sàng gần đây cũng cho thấy giới tính có thể làm thay đổi mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến bệnh nhân và tình trạng viêm nha chu. Trong nghiên cứu này, hút thuốc có liên quan đến tình trạng chảy máu khi thăm dò nha chu (bleeding on probing – BOP) thấp hơn ở nam giới, trong khi tuổi càng cao lại liên quan đến mức độ chảy máu khi thăm dò nha chu tăng lên ở nữ giới.

Nghiên cứu cho thấy những khác biệt về bệnh lý theo giới tính cần được quan tâm nhiều hơn trong nghiên cứu sức khỏe răng miệng. Về lâu dài, các phát hiện này có thể hỗ trợ xây dựng các phương pháp dự phòng, chẩn đoán và điều trị được cá nhân hóa hơn. Tuy nhiên, các tác giả nhấn mạnh rằng cần tiến hành nghiên cứu trên các quần thể khác trước khi có thể đưa ra các khuyến nghị lâm sàng.

Nghiên cứu có tiêu đề “Phân tích hồ sơ bệnh án điện tử để nghiên cứu sự khác biệt giới tính trong các bệnh và tình trạng răng miệng", được đăng trên số tháng 10/2026 của tạp chí Clinical and Experimental Dental Research.

Chủ đề:
Thẻ:
To post a reply please login or register
advertisement
advertisement